Thứ 4, 18/11/2009 - 2:41 PM
Đông y trị bệnh thường gặp trong nghề dạy học
(thuoc.asia) - Người xưa thường có câu: "Sinh vì
nghệ, tử vì nghệ", điều đó cũng mang một hàm ý, làm một nghề gì đó cho
cuộc sống của mình, ắt cũng có những bệnh sinh ra từ đó; ngày nay ta
quen gọi dưới một ngôn từ thông dụng là "bệnh nghề nghiệp". Điều đó quả
không sai, và càng đúng với các trường hợp của các người làm nghề dạy
học mà xã hội tôn vinh là những người thầy.
Những người làm nghề dạy học thường hay mắc một số bệnh mang tính chất chung của nghề đó là các chứng bệnh như: Phế hư
Thị lực giảm Mắt mờ, cận thị... cũng do cái nghiệp dạy học sinh ra. Cứ luận giải theo cách nói của YHCT: "can khai khiếu ra mắt" ý nói bệnh của mắt là do gan đưa lại. Điều đó chỉ đúng với cái nghĩa là "can chủ mưu lự", hàm ý gan chủ về sự suy nghĩ nhiều, tính toán nhiều mà ảnh hưởng đến mắt. Còn cái nghĩa thứ hai nữa là"nhìn lâu hại can" mà "can lại khai khiếu ra mắt". Như vậy cả hai cái ý "mưu lự và nhìn lâu" ở trên, đều có phần liên quan đến mắt. Phần y lý này, sáng tỏ đến đâu thì chưa rõ, song các thầy giáo quả là thường xuyên phải nhìn lâu. Trên lớp nhìn giáo án, nhìn bảng, nhìn trò, nhìn vở... về nhà soạn bài, chấm bài... đều phải nhìn, cả ngày, thậm chí cả buổi tối, đều phải nhìn. Do đó mắt kém là cái lẽ đương nhiên. Phương thuốc kỷ cúc địa hoàng, sẽ giúp cho thị lực của các thầy, ngày một tốt lên: Thục địa 16g; hoài sơn, sơn thù du, mỗi vị 8g; trạch tả, bạch linh, mẫu đơn bì, mỗi vị 6g; cúc hoa 4g, kỷ tử 4g. Sắc uống ngày một thang, uống liền 3-4 tuần. Khi cần thiết có thể làm dưới dạng hoàn cho tiện dụng. Táo bón mạn tính
Đau nhức gân cốt YHCT cho rằng, "đứng lâu hại thận" mà "thận chủ xương cốt". Thật vậy, thầy giáo ít khi được ngồi, nhất là trên lớp. Do đó cái điều đau lưng, đau gối, đau xương... là không tránh khỏi. Các vị thuốc cẩu tích, cốt toái bổ, đau xương, cốt khí củ, tang ký sinh... là những vị thuốc tốt cho xương cốt, giảm đau xương, giảm tê bì... Khi cần thiết có thể dùng cổ phương "Độc hoạt ký sinh thang" là rất công hiệu: tang ký sinh 20g; ngưu tất, đỗ trọng, tần giao, bạch linh, bạch thược, mỗi vị 12g; độc hoạt, phòng phong, sinh địa, đảng sâm, mỗi vị 8g; quế chi, tế tân, mỗi vị 4g; cam thảo 6 g. Ngày một thang, dưới dạng thuốc sắc. Uống liền 3-4 tuần. Có thể dùng dưới dạng rượu, gia thêm hà thủ ô đỏ 16g, thục địa 12g, trần bì 10g, ngâm trong rượu 30 - 35o trong một tháng, hàng ngày uống vào lúc trước khi đi ngủ, với lượng 30-50ml. Theo SKĐS/GS.TS. Phạm Xuân Sinh Các tin đã đưa ngày:
|
Ý kiến của bạn về vấn đề này xin gửi đến Diễn đàn cổng thông tin y dược Việt Nam qua địa chỉ e-mail:
thuoc@tcv.vn
|