Thứ 4, 09/12/2009 - 3:07 PM
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển ngành Dược giai đoạn đến 2010
QUYẾT ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ PHÊ DUYỆT CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH DƯỢC GIAI ĐOẠN ĐẾN 2010 - Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25/12/2001. - Căn cứ Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân ngày 30/7/1989 - Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Y tế tại tờ trình số 3880/TTr-BYT ngày 17/5/2002.
QUYẾT ĐỊNH
Ðiều 1. Phê duyệt "Chiến lược phát triển Ngành Dược giai đoạn đến 2010" với những nội dung chủ yếu sau đây: 1. Mục tiêu tổng quát: Phát triển Ngành Dược thành một ngành kinh tế - kỹ thuật mũi nhọn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, chủ động hội nhập khu vực và thế giới nhằm bảo đảm cung ứng đủ thuốc thường xuyên và có chất lượng, bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý và an toàn, phục vụ sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân. 2. Mục tiêu cụ thể đến năm 2010: a. Ðầu tư công nghệ hiện đại, đổi mới trang thiết bị và đổi mới quản lý, để Ngành công nghiệp Dược từng bước đáp ứng nguồn nguyên liệu làm thuốc. Ðến hết năm 2010, tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu và kiểm nghiệm dược phẩm đều đạt tiêu chuẩn thực hành tốt (Good Pratice - GP). b. Xây dựng cơ sở công nghiệp sản xuất kháng sinh và hóa dược, sản xuất các nguyên liệu làm thuốc có thế mạnh, đặc biệt từ dược liệu. c. Cung ứng đủ thuốc thường xuyên và có chất lượng, không để thiếu các thuốc thuộc danh mục thuốc thiết yếu, thuốc cho các chương trình, mục tiêu y tế quốc gia (thuốc phòng chống sốt rét, phòng chống lao, phòng chống bướu cổ v.v...). Chú trọng bảo đảm đầy đủ các dịch vụ cung ứng thuốc cho nhân dân vùng khó khăn. d. Bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả. 3. Các giải pháp và chính sách chủ yếu: a. Giải pháp về quy hoạch, đổi mới công nghệ và nghiên cứu khoa học: - Quy hoạch công nghiệp Dược theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Nâng cao năng lực sản xuất thuốc về quy mô và chất lượng, đầu tư các dây chuyền công nghệ cao theo hướng đi tắt đón đầu. Quy hoạch và hiện đại hóa hệ thống phân phối thuốc bao gồm xuất nhập khẩu, bán buôn và bán lẻ. Phát triển mạng lưới bán lẻ, chú trọng đến vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo. - Ðầu tư có trọng điểm các cơ sở sản xuất hóa chất và nguyên liệu làm thuốc. Ưu tiên đầu tư sản xuất thuốc thiết yếu, thuốc có thế mạnh xuất khẩu, thuốc từ dược liệu và thuốc mang tên gốc thay thế thuốc nhập khẩu; nghiên cứu sản xuất các dạng thuốc bào chế cho trẻ em và người già. Chú trọng đầu tư phát triển dược liệu. - Phát triển công tác nghiên cứu khoa học về công nghệ bào chế và công nghệ sinh học, về dược liệu, phân tích kiểm nghiệm thuốc để phục vụ sản xuất các thuốc mới. Ðẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý, điều hành sản xuất, cung ứng và sử dụng thuốc... - Kết hợp chặt chẽ nguồn lực về con người và trang thiết bị của Ngành Dược với nguồn lực của các Bộ, Ngành, các viện nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu khoa học khác để nghiên cứu về thuốc và nguyên liệu làm thuốc, gắn quá trình nghiên cứu với thực tiễn sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm. b. Giải pháp về tổ chức và phát triển nguồn nhân lực: - Củng cố và tăng cường hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về dược: Kiện toàn Cục quản lý Dược Việt Nam; tổ chức lại và tăng cường năng lực Thanh tra chuyên ngành Dược; hoàn thiện tổ chức các phòng Quản lý dược của các Sở Y tế; quy hoạch lại hệ thống sản xuất thuốc. - Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực dược: tăng cường đào tạo và đào tạo lại các loại hình cán bộ dược. Phát triển đào tạo sau đại học. Phát triển và bồi dưỡng nhân tài, đào tạo nguồn cán bộ nghiên cứu có trình độ cao. Thành lập mới một số khoa dược ở các Trường Ðại học Y để đào tạo dược sĩ đại học cho các khu vực khó khăn. c. Giải pháp về giám sát chất lượng thuốc: - Hiện đại hóa hệ thống bảo đảm chất lượng thuốc. - Tạo điều kiện và khuyến khích thành lập các cơ sở dịch vụ kiểm nghiệm hiện đại ngoài hệ thống kiểm nghiệm Nhà nước. d. Các giải pháp về xây dựng cơ chế chính sách: - Hoàn thiện hệ thống luật pháp về quản lý dược. Xây dựng Luật Dược. Sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật về dược, hệ thống quy chế, các thường quy kỹ thuật và hệ thống tiêu chuẩn về dược. Chuẩn hóa các hoạt động quản lý, sản xuất và cung ứng thuốc, tiến tới đạt các tiêu chuẩn quốc tế. - Xây dựng chính sách ưu tiên cho các doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu phát triển và đổi mới công nghệ, sản xuất nguyên liệu làm thuốc, sản xuất sản phẩm dược xuất khẩu. - Xây dựng chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Ngành Dược, trong đó ưu tiên các dự án sản xuất nguyên liệu làm thuốc nhất là đối với các dự án sử dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học. Có chính sách thích hợp về đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân phối thuốc. - Ða dạng hóa các loại hình kinh doanh dược, đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa. Khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao năng lực nghiên cứu để tạo ra sản phẩm mới. - Tăng cường hợp tác với các nước trong khu vực và thế giới, với Tổ chức Y tế thế giới và các tổ chức quốc tế khác. Thực hiện lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế phù hợp với những cam kết của nước ta trong quan hệ song phương và đa phương, từng bước hòa hợp quy chế về dược với khu vực và thế giới. e. Bảo đảm tài chính: Huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, các nguồn vốn hợp tác song phương và đa phương của các tổ chức phi Chính phủ, vốn đầu tư nước ngoài, vốn của các doanh nghiệp trong nước và của cộng đồng. - Nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung cho nhu cầu nghiên cứu khoa học công nghệ, cho đào tạo nguồn nhân lực, phát triển tiềm năng dược liệu và công nghiệp nguyên liệu làm thuốc, đầu tư cho các doanh nghiệp công ích và nâng cao năng lực của cơ quan quản lý Nhà nước và cơ quan kiểm nghiệm. - Nguồn vốn đầu tư nước ngoài tập trung vào khu vực sản xuất dược phẩm, khuyến khích đầu tư những dây chuyển sản xuất có công nghệ hiện đại, ưu tiên cho sản xuất nguyên liệu làm thuốc. - Nhu cầu về đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh dược phẩm của các doanh nghiệp được huy dộng từ nguồn vốn vay, vốn tự có, cổ phần hóa... Căn cứ vào kế hoạch thực hiện Chiến lược, Bộ Y tế xây dựng dự toán gửi Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Ðầu tư xem xét, cân đối vào ngân sách hàng năm báo cáo Chính phủ để trình Quốc hội phê duyệt. f. Thời gian thực hiện Chiến lược: Từ năm 2002 đến năm 2010, được chia thành 2 giai đoạn: - Giai đoạn 1: từ năm 2002 đến năm 2005 - Giai đoạn 2: từ năm 2006 đến năm 2010 Căn cứ vào tình hình thực tế, Bộ Y tế xây dựng kế hoạch, mục tiêu cụ thể của từng giai đoạn, phù hợp với nội dung Chiến lược này.
KT. Thủ tướng Chính phủ Phó Thủ tướng
Phạm Gia Khiêm Theo moh.gov
Các tin đã đưa ngày:
|
Ý kiến của bạn về vấn đề này xin gửi đến Diễn đàn cổng thông tin y dược Việt Nam qua địa chỉ e-mail:
thuoc@tcv.vn
|